|
Công ty giầy Thượng Đình là một trong số ít doanh nghiệp (DN) da giầy trong nước đã có sự chuẩn bị "chu đáo" về thị trường bao gồm việc giữ vững "sân nhà" và phát triển mạnh thị trường xuất khẩu.
Phó Tổng giám đốc Công ty Giầy Thượng Đình, ông Hòang Văn Chung, cho biết, từ cách đây năm, bẩy năm, khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập AFTA, Cty đã có sự chuẩn bị nhất định về thị trường bằng cách giữ vững thị trường nội địa và phát triển mạnh thị trường xuất khẩu. Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu đạt 4,7 triệu USD thì đến cuối tháng 12/2006, Cty đã đạt 5,4 triệu USD. Theo ông Chung, sự tăng trưởng này là nhờ Cty đã phát triển thêm một số thị trường mới ngay trước thời điểm nước ta gia nhập WTO. Từ 2005 và năm 2006, Cty đã có những đơn hàng "xuất" Mỹ, Nam Phi, Pêru, Mêhicô... theo xu hướng không có quota.
Có thể nói, những bước chuẩn bị của Thượng Đình đã giữ được sân nhà và không làm biến động đến lao động. Ông Chung lấy ví dụ:Xuất khẩu chỉ có mùa vụ (giày vải từ tháng 10 đến tháng 4) nên phải tập trung toàn bộ lực lượng để hoàn thành các đơn hàng xuất khẩu. Những tháng cuối năm, trung bình sản xuất được 15 nghìn đôi/ ngày để xuất khẩu. Hết mùa xuất khẩu là thời gian làm hàng trong nước. Năm 2006, giầy tiêu thụ nội địa là 3 triệu đôi, xuất khẩu là 2,5 triệu đôi . Vậy là vừa ổn định được thị trường, vừa tạo sự ổn định về công việc cho 2300 lao động trong doanh nghiệp với mức thu nhập trung bình là 1,3 triệu đồng.
Được biết, tháng cuối năm 2006 là thời gian Cty đang gấp rút hòan thành đơn hàng xuất khẩu sang thị trường châu Âu với mặt hàng chủ yếu là giầy vải mùa hè. Đây được coi là mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của Cty trong thời gian qua nhờ duy trì được các khách hàng truyền thống , đồng thời ký kết được nhiều đơn hàng với các khách hàng mới có tiềm năng (như FA, MA, KJ...).
Tuy nhiên đối với ngành da giầy, ngòai việc "nắm" được thị trường thì sự chuẩn bị tốt về vật tư, phụ liệu để hạn chế nhập khẩu, giảm giá thành, ứng dụng khoa học công nghệ để rút ngắn thời gian, giao hàng đúng hạn cũng là những yếu tố quan trọng góp phần tăng cường sự cạnh tranh. Sớm nhận thức được điều này, từ năm 1992, Cty Giầy Thượng Đình đã có sự đầu tư tòan diện bằng máy móc thiết bị nhập khẩu từ Đài Loan và từ đó đến nay, bình quân mỗi năm Cty đầu tư từ 5 - 6 tỷ đồng cho việc đổi mới thiết bị. Riêng năm 2004, Cty đã mở rộng quy mô sản xuất với việc đầu tư xây dựng thêm một nhà máy tại tỉnh Hà Nam với số vốn lên tới 35 tỷ đồng, tạo thêm việc làm cho 400 công nhân ở địa phương.
Năm 2007, theo các chuyên gia ngành da giầy thì đây sẽ là một năm nhiều cơ hội và thách thức đối với các DN da giầy trong nước, các DN nước ngòai sẽ "đàng hòang" đi vào sân của chúng ta bằng con đường chính ngạch. Riêng đối với Cty Giầy Thượng Đình, việc EU áp mức thuế chính thức đối với các sản phẩm da giầy có mũ bằng da xuất khẩu của Việt Nam làm ảnh hưởng rất lớn đến các đơn hàng xuất khẩu của Cty. Chưa kể nhiều DN do thiếu đơn hàng xuất khẩu đã chuyển sang sản xuất và cạnh tranh mạnh với Cty trên thị trường nội địa. Giá cả vật tư bao gồm: vải, cao su, hóa chất biến động thất thường, cùng giá điện cũng bắt đầu tăng sẽ tác động trực tiếp tới nhiều DN da giầy, trong đó có Cty Giầy Thượng Đình. Tuy nhiên, năm 2007, Ban Giám đốc Cty vẫn đặt mục tiêu sản xuất 6 triệu đôi (năm 2006 là 5,5 triệu đôi), trong đó giầy xuất khẩu là 2,5 triệu đôi còn giầy tiêu thụ nội địa là 3,5 triệu đôi nhằm tiếp tục khẳng định thương hiệu giầy Thượng Đình đối với người tiêu dùng trong nước.
Liên tiếp từ năm 2005 - 2006, Giầy Thượng Đình được công nhận là Thương hiệu mạnh năm 2005 và Nhãn hiệu nổi tiếng năm 2006.
|